DUODART

DUODART chứa 0,5mg Dutasteride và 0,4mg Tamsulosin HCl

daydreaming distracted girl in class

DUODART

 

Thành phần

Thành phần của mỗi viên có chứa 0,5mg Dutasteride và 0,4mg Tamsulosin HCl.

Công dụng – chỉ định

Thuốc được chỉ định trong điều trị bệnh phì đại lành tính tiền liệt tuyến mức độ triệu chứng từ vừa cho đến nặng. Thuốc có thể làm giảm nguy cơ bị bí tiểu cấp tính và phẫu thuật trên bệnh nhân bị phì đại lành tính tiền liệt tuyến triệu chứng mức độ vừa đến nặng.

Liều dùng – cách dùng

Liều dùng ở nam giới trưởng thành (bao gồm cả người cao tuổi):

Liều khuyến cáo của thuốc DUODART là uống một viên nang (0,5 mg/ 0,4 mg) khoảng 30 phút sau một bữa ăn mỗi ngày. Khi uống nên nuốt nguyên viên nang, không được nhai hay mở nang ra. Tiếp xúc với chất có chứa trong viên nang dutasteride có trong nang vỏ cứng có thể gây kích ứng niêm mạc miệng – hầu họng.

Bệnh nhân suy thận:

Ảnh hưởng của tình trạng suy thận đến dược động học của thuốc vẫn chưa được nghiên cứu. Tuy nhiên, có thể không cần chỉnh liều ở bệnh nhân bị suy thận.

Bệnh nhân suy gan:

Ảnh hưởng của tình trạng suy gan tới dược động học của thuốc vẫn chưa được nghiên cứu.

Quá liều và xử trí:

Hiện không có dữ liệu liên quan đến quá liều DUODART. Dưới đây là các thông tin có sẵn đối với từng thành phần riêng rẽ.

Dutasteride:

Trong những nghiên cứu ở người tình nguyện, sử dụng liều đơn dutasteride lên đến 40 mg/ngày (gấp tới 80 lần liều điều trị) trong vòng 7 ngày không thấy tình trạng nào đáng kể về tính an toàn. Ở các nghiên cứu lâm sàng, khi cho bệnh nhân uống liều 5 mg mỗi ngày trong vòng 6 tháng, không quan sát thấy có thêm tác dụng phụ không mong muốn nào ngoài những triệu chứng không mong muốn đã gặp khi sử dụng liều điều trị 0,5 mg.

Hiện vẫn chưa có thuốc giải độc đặc hiệu cho dutasteride. Do đó, trong trường hợp nghi ngờ sử dụng quá liều thì nên tiến hành phương pháp điều trị triệu chứng và sử dụng các biện pháp hỗ trợ phù hợp.

Tamsulosin:

Trong trường hợp bị hạ huyết áp cấp tính sau khi sử dụng quá liều tamsulosin hydrochloride, cần có sự hỗ trợ tim mạch. Bệnh nhân có thể phục hồi huyết áp, bình thường hóa nhịp tim bằng cách cho bệnh nhân nằm xuống. Nếu cách này không hiệu quả, có thể sử dụng các chất làm tăng thể tích dịch và nếu cần có thể dùng thuốc co mạch. Khi đó, chức năng thận cần được theo dõi, hỗ trợ nếu cần. Các dữ liệu từ phòng thí nghiệm cho thấy tamsulosin hydrochloride có thể liên kết từ 94% đến 99% với protein huyết tương. Vì vậy, thẩm tách dường như không hiệu quả trong việc loại tamsulosin ra khỏi cơ thể.

Chống chỉ định

Chống chỉ định sử dụng DUODART cho bệnh nhân quá mẫn với dutasteride, với chất ức chế 5-alpha-reductase khác, với tamsulosin hydrochloride hay với bất cứ thành phần nào trong chế phẩm.
Chống chỉ định sử dụng DUODART cho phụ nữ và trẻ.
Chống chỉ định sử dụng DUODART ở bệnh nhân có tiền sử bị tụt huyết áp tư thế hay bệnh nhân suy gan nặng.

Tác dụng phụ

Các tác dụng phụ có thể gặp khi sử dụng thuốc bao gồm:

  • Rối loạn hệ miễn dịch

  • Rối loạn da và mô dưới da

  • Xuất hiện phản ứng dị ứng, bao gồm phát ban, mẩn ngứa, mày đay, phù khu trú hay phù mạch nhưng rất hiếm

  • Rối loạn tâm thần

  • Rất hiếm gặp trạng thái trầm cảm

  • Hiếm gặp rụng lông tóc (chủ yếu lông trên cơ thể) hay chứng rậm lông tóc

  • Rối loạn vú và hệ sinh sản

  • Rất hiếm gặp đau tinh hoàn hay sưng tinh hoàn.

  • Rung nhĩ, nhịp tim nhanh, loạn nhịp tim, khó thở, nhìn mờ, giảm thị lực, chảy máu cam, ban đỏ đa hình, viêm da bong vảy, khô miệng đã được ghi nhận có liên quan đến việc sử dụng tamsulosin.

Tương tác

Hiện chưa có nghiên cứu về tương tác thuốc với DUODART. Dưới đây là các thông tin có sẵn đối với từng thành phần riêng rẽ.

Dutasteride:

Các nghiên cứu về chuyển hóa thuốc in vitro cho thấy dutasteride chuyển hóa bởi isoenzyme CYP3A4 của hệ cytochrome P450 ở người. Do đó nồng độ của dutasteride trong máu có thể tăng lên khi sử dụng cùng các chất ức chế enzyme CYP3A4.
Số liệu của nghiên cứu giai đoạn II cho thấy có sự giảm độ thanh thải dutasteride khi uống đồng thời với chất ức chế CYP3A4 chẳng hạn như verapamil (37%) và diltiazem (44%). Ngược lại, không thấy giảm độ thanh thải khi uống đồng thời dutasteride với amlodipine, một chất chẹn kênh calci khác. Sự giảm độ thanh thải có thể tăng sự phơi nhiễm của dutasteride khi sử dụng cùng lúc các chất ức chế CYP3A4 ít có ý nghĩa trên lâm sàng do có phạm vi an toàn rộng (bệnh nhân đã sử dụng gấp 10 lần liều khuyến cáo trong vòng 6 tháng). Vì vậy, không cần phải điều chỉnh liều.
In vitro, dutasteride không chuyển hóa qua các isoenzyme CYP1A2 hay CYP2A6 hay CYP2E1 hay CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19, CYP2B6 và CYP2D6 của cytochrome P450 ở người.
Dutasteride không ức chế enzyme chuyển hóa thuốc của hệ cytochrome P450 ở người trên in vitro cũng như không cảm ứng các isoenzyme CYP1A, CYP2B, CYP3A của hệ cytochrome P450 ở chuột cống và chó trong thử nghiệm in vivo.
Các nghiên cứu trên in vitro cho thấy rằng dutasteride không tác động tới warfarin, acenocoumarol, phenprocoumon, diazepam hay phenytoin khi liên kết với protein huyết tương. Những chất loại này cũng không ảnh hưởng tới dutasteride. Các hợp chất được tiến hành thử nghiệm về sự tương tác thuốc ở người bao gồm tamsulosin, warfarin, digoxin, terazosin và cholestyramine và không cho thấy những tương tác dược động học, dược lực học có ý nghĩa trên lâm sàng.
Mặc dù chưa thực hiện các nghiên cứu tương tác đặc hiệu với hợp chất khác nhưng có khoảng 90% đối tượng trong nghiên cứu lớn giai đoạn III đã sử dụng dutasteride đồng thời với thuốc khác. Không quan sát thấy tương tác bất lợi có ý nghĩa trên lâm sàng trong thử nghiệm lâm sàng khi dutasteride được sử dụng đồng thời với thuốc chống tăng lipid máu, thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEi), thuốc chẹn beta-adrenergic, thuốc chẹn kênh calci, corticosteroid, thuốc lợi tiểu, thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), thuốc ức chế phosphodiesterase type V và kháng sinh nhóm quinolon.

Tamsulosin:

Trên lý thuyết có nguy cơ về tác dụng gây hạ huyết áp khi uống đồng thời tamsulosin hydrochloride à các thuốc có thể gây hạ huyết áp, bao gồm thuốc gây mê, thuốc ức chế PDE5, các thuốc chẹn alpha-1 adrenergic khác. Không nên dùng DUODART kết hợp với thuốc chẹn alpha-1 adrenergic.
Sử dụng đồng thời tamsulosin hydrochloride với ketoconazole (chất ức chế mạnh CYP3A4) có thể làm tăng Cmax, AUC của tamsulosin hydrochloride là 2,2 và 2,8 lần. Sử dụng đồng thời tamsulosin hydrochloride với paroxetine (chất ức chế mạnh CYP2D6) có thể làm tăng Cmax, AUC của tamsulosin hydrochloride là 1,3 và 1,6 lần. Ảnh hưởng của việc sử dụng đồng thời cả hai chất ức chế enzyme CYP3A4 và CYP2D6 với tamsulosin hydrochloride chưa được nghiên cứu trên lâm sàng, tuy nhiên có khả năng làm gia tăng sự phơi nhiễm đáng kể với tamsulosin.
Sử dụng đồng thời tamsulosin hydrochloride (0,4 mg) với cimetidine (400 mg mỗi 6 giờ trong vòng 6 ngày) sẽ làm giảm độ thanh thải (26%) và làm tăng AUC (44%) của tamsulosin hydrochloride. Do đó, nên thận trọng khi dùng DUODART kết hợp với cimetidine.
Hiện chưa có nghiên cứu về tương tác thuốc – thuốc giữa tamsulosin hydrochloride với warfarin. Kết quả từ các nghiên cứu hạn chế in vitro và in vivo không đủ để đưa ra kết luận. Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời warfarin và tamsulosin hydrochloride.
Ở 3 nghiên cứu, không nhận thấy có tương tác khi sử dụng tamsulosin (0,4 mg trong vòng 7 ngày, sau đó 0,8 mg trong vòng 7 ngày) cùng lúc với atenolol, enalapril hay nifedipine trong vòng 3 tháng. Vì vậy, không cần phải hiệu chỉnh liều khi dùng đồng thời những thuốc này.
Sử dụng đồng thời tamsulosin hydrochloride (0,4 mg/ngày trong vòng 2 ngày, sau đó 0,8 mg/ngày trong từ 5 đến 8 ngày) và liều đơn theophylline tĩnh mạch (5 mg/kg) không ảnh hưởng tới dược động học của theophylline; vì vậy không cần chỉnh liều.
Sử dung đồng thời tamsulosin hydrochloride (0,8 mg/ngày) và liều đơn furosemid tiêm tĩnh mạch (20 mg) làm giảm từ 11% - 12% Cmax và AUC của tamsulosin hydrochloride. Tuy nhiên những thay đổi này không có ý nghĩa trên lâm sàng và không cần hiệu chỉnh liều.

Lưu ý khi sử dụng

Cần lưu ý khi sử dụng thuốc ở những trường hợp:

  • Ung thư tuyến tiền liệt: Trong một nghiên cứu 4 năm trên hơn 8.000 nam giới độ tuổi từ 50 đến 75, kết quả sinh thiết ung thư tuyến tiền liệt âm tính trước đó và có giá trị PSA ban đầu trong khoảng từ 2,5 ng/mL - 10,0 ng/mL (nghiên cứu REDUCE), có 1.517 nam giới được chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt. Tỉ lệ mới mắc ung thư tuyến tiền liệt có Gleason 8-10 ở nhóm sử dụng AVODART (n=29; 0,9%) cao hơn nhóm sử dụng giả dược (n=19; 0,6%). Không làm tăng tỉ lệ mắc mới ung thư tuyến tiền liệt có Gleason 5 - 6 hay 7 - 10. Không thiết lập được mối quan hệ nhân quả giữa AVODART với ung thư tuyến tiền liệt ác tính. Ý nghĩa lâm sàng của sự chênh lệch này chưa rõ. Nam giới sử dụng DUODART nên được đánh giá thường xuyên về nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt kể cả xét nghiệm PSA.
    Trong một nghiên cứu bổ sung trong 2 năm pử những bệnh nhân ban đầu từ nghiên cứu hóa dự phòng bằng thuốc AVODART (REDUCE), tỷ lệ thấp mắc mới ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện ở nhóm sử dụng dutasteride (n=14; 1,2%) với nhóm dùng giả dược (n=7; 0,7%). Trong đó không có trường hợp nào được xác định là mắc ung thư tuyến tiền liệt có Gleason 8-10.

  • Kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA-Prostate Specific Antigen): nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) là thành phần quan trọng trong quá trình tầm soát phát hiện ung thư tuyến tiền liệt. DUODART có thể gây giảm lượng PSA trung bình huyết thanh khoảng từ 50% sau 6 tháng sử dụng điều trị.
    Bệnh nhân sử dụng DUODART nên có một giá trị PSA cơ bản mới, thiết lập sau 6 tháng điều trị với thuốc DUODART. Khuyến cáo nên theo dõi thường xuyên giá trị PSA sau đó. Bất kì sự gia tăng PSA nào được ghi nhận từ mức PSA thấp nhất trong quá trình sử dụng DUODART có thể là dấu hiệu của tình trạng ung thư tuyến tiền liệt hy của việc không tuân thủ điều trị. Khi đó bệnh nhân nên được đánh giá cẩn thận, thậm chí ngay cả khi các giá trị này nằm trong giới hạn bình thường ở nam giới không sử dụng chất ức chế 5-ARI. Để đánh giá giá trị PSA ở bệnh nhân sử dụng DUODART, nên tìm các kết quả xét nghiệm giá trị PSA trước đó để so sánh.
    Sử dụng thuốc điều trị không gây ảnh hưởng đến việc xét nghiệm PSA như là một công cụ chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt sau khi đã thiết lập giá trị cơ bản mới.
    Mức PSA huyết thanh t trở về giá trị cơ bản sau 6 tháng khi ngừng sử dụng thuốc điều trị.
    Tỷ số PSA tự do và PSA toàn phần vẫn hằng định ngay cả khi sử dụng DUODART. Nếu các bác sĩ muốn sử dụng tỷ lệ PSA tự do như một biện pháp hỗ trợ phát hiện ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới sử dụng DUODART thì không cần hiệu chỉnh giá trị này.
    Nên thăm khám trực tràng cũng như tiến hành các đánh giá khác nhằm phát hiện ung thư tuyến tiền liệt ở bệnh nhân BPH (Benign Prostatic Hyperplasia: phì đại tuyến tiền liệt lành tính) trước khi sử dụng DUODART và kiểm tra định kỳ.

  • Các biến cố bất lợi trên tim mạch: Trong hai nghiên cứu lâm sàng 4 năm, tỉ lệ mới mắc suy tim ở những bệnh nhân sử dụng phối hợp AVODART và một thuốc chẹn alpha, đa số là tamsulosin, cao hơn so với bệnh nhân không sử dụng liệu pháp phối hợp. Trong hai thử nghiệm này, tỉ lệ mới mắc suy tim thấp (≤1%) và có sự khác nhau giữa các nghiên cứu. Không thấy sự mất cân bằng trong tỉ lệ mới mắc các biến cố bất lợi tim mạch nói chung trong cả hai thử nghiệm. Chưa thiết lập được mối quan hệ nhân quả giữa AVODART (đơn trị hay phối hợp với thuốc chẹn alpha) và tình trạng suy tim.
    Trong một phân tích tổng hợp của 12 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng (giả dược hoặc với thuốc so sánh)(n=18.802) đánh giá các nguy cơ xuất hiện những biến cố bất lợi tim mạch khi uống AVODART (bằng cách so sánh với nhóm đối chứng), không cho thấy sự gia tăng nhất quán và có ý nghĩa thống kê về nguy cơ mắc suy tim (RR 1,05; khoảng tin cậy 95% 0,71, 1,57), hay nhồi máu cơ tim cấp (RR 1,00; khoảng tin cậy 95% 0,77, 1,30) hay đột quỵ (RR 1,20; khoảng tin cậy 95% 0,88, 1,64).

  • Ung thư vú: Hiếm có báo cáo về ung thư vú nam giới trên những bệnh nhân đang sử dụng AVODART trong thử nghiệm lâm sàng và trong giai đoạn khi lưu hành thuốc. Tuy nhiên, nghiên cứu dịch tễ đã chỉ cho thấy không có sự gia tăng nguy cơ phát triển ung thư vú trên nam giới khi sử dụng chất ức chế 5-ARI. Bác sĩ cần hướng dẫn bệnh nhân của mình báo cáo ngay, kịp thời bất kỳ thay đổi nào ở vị trí mô tuyến vú của họ chẳng hạn như khối u hoặc núm vú tiết dịch.

  • Hạ huyết áp: Tương tự như các thuốc chẹn alpha-1 adrenergic khác, tình trạng hạ huyết áp thế đứng có thể xảy ra trên bệnh nhân điều trị bằng tamsulosin, trong một số trường hợp hiếm gặp có thể bị ngất.
    Bệnh nhân bắt đầu điều trị bằng DUODART cần thận trọng ngồi hay nằm xuống khi có những dấu hiệu của hạ huyết áp thế đứng (chẳng hạn như choáng váng và chóng mặt) đến khi hết các triệu chứng.
    Cần thận trọng khi dùng cùng thuốc chẹn alpha adrenergic bao gồm cả tamsulosin với thuốc ức chế PDE5. Những thuốc chẹn alpha adrenergic và thuốc ức chế PDE5 đều là thuốc gây giãn mạch mà có thể làm tụt huyết áp. Sử dụng cùng lúc hai nhóm thuốc này có nguy cơ bị hạ huyết áp có triệu chứng.

  • Hội chứng Mống Mắt Mềm trong khi phẫu thuật (Intraoperative Floppy Iris Syndrome - IFIS): Đã ghi nhận thấy Hội chứng Mống Mắt Mềm trong khi phẫu thuật (IFIS, biến thể của hội chứng đồng tử nhỏ) khi phẫu thuật đục thủy tinh thể ở một số bệnh nhân sử dụng thuốc chẹn alpha-1 adrenergic, bao gồm cả tamsulosin. IFIS có thể làm tăng nguy cơ mắc các biến chứng về mắt trong cũng như sau quá trình phẫu thuật.
    Trong quá trình đánh giá tiền phẫu, bác sĩ phẫu thuật đục thủy tinh thể nên xem xét liệu bệnh nhân được sắp xếp lịch phẫu thuật đục thủy tinh thể có sử dụng hay đã từng điều trị bằng DUODART hay không để đảm bảo đã có sẵn các phương pháp thích hợp nhằm xử lý IFIS nếu xảy ra trong quá trình phẫu thuật.
    Việc ngừng sử dụng tamsulosin từ 1 - 2 tuần trước khi phẫu thuật đục thủy tinh thể được xem là có tác dụng chỉ mang tính dự đoán. Lợi ích của việc ngừng cũng như khoảng thời gian ngừng sử dụng thuốc trước khi phẫu thuật đục thủy tinh thể chưa được biết.

  • Viên nang rò rỉ: Dutasteride được hấp thu qua da. Vì vậy, phụ nữ và trẻ em nên hạn chế tiếp xúc với các viên nang rò rỉ. Nếu tiếp xúc với viên nang rò rỉ nên rửa vùng da bị tiếp xúc ngay lập tức bằng xà phòng và.

  • Các chất ức chế CYP3A4 và CYP2D6: Sử dụng phối hợp tamsulosin hydrochloride và các chất ức chế mạnh CYP3A4 (ví dụ ketoconazole), hay với các chất ức chế mạnh CYP2D6 (ví dụ paroxetine) có thế làm tăng sự phơi nhiễm với tamsulosin. Do đó, tamsulosin hydrochloride không khuyến cáo sử dụng cho các bệnh nhân đang uống thuốc ức chế CYP3A4 mạnh và cần sử dụng thận trọng ở bệnh nhân đang uống thuốc ức chế CYP3A4 mức độ trung bình (ví dụ erythromycin), thuốc ức chế CYP2D6 mạnh hay trung bình, phối hợp cả chất ức chế CYP3A4 và CYP2D6, hay ở những bệnh nhân kém chuyển hóa CYP2D6.

  • Suy gan: Ảnh hưởng của tình trạng suy gan đối với dược động học của Dutasteride vẫn chưa được nghiên cứu. Dutasteride được chuyển hóa và có thời gian bán thải từ 3 đến 5 tuần nên cần thận trọng khi sử dụng dutasteride cho các bệnh nhân mắc các bệnh lý về gan.

Thông tin sản phẩm

SĐK: VN2-525-16

NSX: Catalent Germany Schorndorf GmbH - ĐỨC

NĐK: GlaxoSmithKline Pte., Ltd

Sản phẩm thuộc nhóm “Thuốc hỗ trợ trong điều trị bệnh đường tiết niệu”.

Thuốc được bào chế ở dạng viên nang cứng, đóng gói trong hộp 1 lọ 30 viên.

 

 

 
Có thể bạn quan tâm?
MAXXTRIPTAN 35

MAXXTRIPTAN 35

administrator
METHYLERGOMETRINE MALEATE INJECTION 0,2mg - 0,1mg

METHYLERGOMETRINE MALEATE INJECTION 0,2mg - 0,1mg

administrator
BANAGO 20

BANAGO 20

administrator
APIGEL-PLUS

APIGEL-PLUS

administrator
TOULALAN

TOULALAN

administrator
VASOTENSE 10

VASOTENSE 10

administrator
CEFADROXIL 250mg

CEFADROXIL 250mg

administrator
MEDOFALEXIN 500

MEDOFALEXIN 500

MEDOFALEXIN 500 có thành phần bao gồm 500mg Cephalexin (ở dạng Cephalexin monohydrat)
administrator