IDARUBICIN PHARES 1 MG/ML

Thành phần

Mỗi lọ 10 mL chứa 10 mg Idarubicin (ở dạng idarubicin hydrochloride).

Công dụng – chỉ định

Chỉ định:

- Đối với bệnh nhân người lớn:

 + Sử dụng trong điều trị bệnh bạch cầu dòng tủy cấp (AML) cho những người bệnh không nhận được sự điều trị hoặc điều trị giảm nhẹ đối với những người bệnh tái phát hoặc khó điều trị.

 + Lựa chọn điều trị hàng 2 dành cho những bệnh nhân bị bệnh cầu nguyên bào lympho cấp tái phát (ALL).

- Đối với bệnh nhi:

 + Sử dụng trong điều trị bệnh bạch cầu dòng tủy cấp (AML) phối hợp cùng cytarabin.

 + Lựa chọn điều trị hàng 2 dành cho những bệnh nhi bị bệnh bạch cầu nguyên bào lympho cấp tái phát (ALL).

Idarubicin Accord còn có thể được dùng trong những phác đồ điều trị phối hợp có liên quan đến các hoạt chất gây độc tế bào khác.

Liều dùng – cách dùng

Đường sử dụng thuốc là đường tiêm tĩnh mạch (đường IV). Liều sử dụng được tính dựa trên diện tích da của bệnh nhân (mg/m2).

- Điều trị bệnh bạch cầu cấp không lympho bào (AML):

 + Người lớn: đối với bệnh bạch cầu cấp không lympho bào, liều sử dụng được khuyến cáo là 12 mg/m2 diện tích da đường IV hằng ngày trong vòng 3 ngày và phối hợp với cytarabin. Có thể sử dụng liều 8 mg/m2 diện tích da đường tiêm tĩnh mạch hằng ngày trong vòng 5 ngày sử dụng đơn độc hoặc phối hợp trong điều trị bệnh bạch cầu cấp không lympho bào.

 + Bệnh nhi: khoảng liều khuyến cáo sử dụng là từ 10 – 12 mg/m2 diện tích da hằng ngày, sử dụng trong vòng 3 ngày phối hợp cùng cytarabin.

- Điều trị bệnh bạch cầu lympho cấp (ALL):

 + Người lớn: sử dụng đơn độc, liều khuyến cáo là 12 mg/m2 diện tích da hằng ngày, sử dụng trong vòng 3 ngày.

 + Bệnh nhi: sử dụng đơn độc, liều khuyến cáo là 10 mg/m2 diện tích da tiêm tĩnh mạch hằng ngày, sử dụng trong vòng 3 ngày.

*Lưu ý: trên đây chỉ là những chỉ dẫn chung do đó cần theo dõi thêm những quy trình riêng của hướng dẫn sử dụng thuốc để sử dụng chính xác liều lượng. Khi xác định liều lượng sử dụng cho người bệnh, cần quan tâm tới các thông số về huyết học và liều sử dụng của các thuốc độc tế bào khác nếu có sự phối hợp thuốc.

Cách sử dụng: quá trình tiêm tĩnh mạch thuốc phải được thực hiện rất thận trọng. Idarubicin được khuyến cáo truyền bằng ống truyền tĩnh mạch tư do của NaCl 0.9% từ 5 – 10 phút sau khi tiêm. Kỹ thuật tiêm này giúp giảm nguy cơ bị huyết khối hoặc thoát mạch xung quanh tĩnh mạch có thể gây ra viêm mô tế bào mức độ nghiêm trọng hoặc xuất hiện các mụn nước, hoại tử. Không nên sử dụng tiêm trực tiếp vì có thể gây thoát mạch xảy ra ngay cả khi đã đủ máu trở lại bằng việc hút qua kim.

Chống chỉ định

Bệnh nhân mẫn cảm với hoạt chất Idarubicin hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc, các anthracycline hay anthracenedione khác.

Bệnh nhân suy gan mức độ nặng.

Bệnh nhân suy thận mức độ nặng.

Bệnh nhân có bệnh cơ tim mức độ nặng.

Bệnh nhân có nhiễm khuẩn không được kiểm soát.

Bệnh nhân có cơn nhồi máu cơ tim gần đây.

Bệnh nhân bị loạn nhịp tim mức độ nghiêm trọng.

Bệnh nhân có tình trạng suy tủy dai dẳng.

Bệnh nhân đã được điều trị trước đây bằng liều tích lũy tối đa idarubicine và/hoặc các anthracyclin hay anthracenedione khác.

Phụ nữ cho con bú.

Tác dụng phụ

Rất thường gặp (tỉ lệ ADR ≥ 10%):

+ Nhiễm khuẩn.

+ Thiếu máu, giảm bạch cầu mức độ nghiêm trọng, giảm tiểu cầu: suy tủy là tác dụng không mong muốn nghiêm trọng nhất của Idarubicin trên hệ tạo máu.

+ Chán ăn.

+ Buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy hoặc cảm giác nóng rát: có thể mất nước do tiêu chảy và nôn, có nguy cơ thủng ruột kết.

+ Viêm miệng, niêm mạc: loét niêm mạc là trường hợp nghiêm trọng.

+ Rụng tóc.

+ Nước tiểu màu đỏ trong vòng 1 -2 ngày sau điều trị.

+ Sốt, ớn lạnh, đau đầu.

Thường gặp (tỉ lệ ADR từ ≥ 1% đến ≤ 10%):

+ Nhịp tim chậm, nhịp nhanh xoang, loạn nhịp nhanh tim, phân suất tống máu thất trái giảm không triệu chứng, bệnh cơ tim, suy tim sung huyết: suy tim sung huyết có thể nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân là tình trạng nặng nhất trên tim do anthracycline gây ra.

+ Chảy máu, viêm tĩnh mạch cục bộ, viêm tắc tĩnh mạch: có thể gây đau cho bệnh nhân, sần da vỏ cam nghiêm trọng hoặc hoại tử mô.

+ Xuất huyết tiêu hóa, đau bụng.

+ Men gan tăng, tăng bilirubin.

+ Rối loạn trên da và mô dưới da.

+ Ngứa, nổi ban, phản ứng thu hồi bức xạ (tăng mẫn cảm của da bị chiếu xạ).

Ít gặp (tỉ lệ ADR từ ≥ 0.1% đến ≤ 1%):

+ Nhiễm khuẩn huyết.

+ Bệnh bạch cầu thứ phát (bệnh bạch cầu dòng tủy cấp và hội chứng loạn sản tủy).

+ Mất dịch, rối loạn chuyển hóa, rối loạn dinh dưỡng.

+ Tăng acid uric huyết: có thể dự phòng bằng cách kiềm hóa nước tiểu và sử dụng allopurinol để dự phòng để giảm các biến chứng tiềm tàng của hội chứng ly giải khối u.

+ Bất thường trên điện tâm đồ, nhồi máu cơ tim.

+ Sốc.

+ Viêm thực quản, viêm đại tràng (viêm ruột mức độ nặng, viêm ruột có giảm bạch cầu đa nhân trung tính và có thủng).

+ Tăng sắc tố ở da và móng tay, nổi mề đay, viêm mô tế bào, hoại tử mô.

Hiếm gặp (tỉ lệ ADR từ ≥ 0.01% đến ≤ 0.1%):

+ Xuất huyết não.

Rất hiếm gặp (tỉ lệ ADR < 0.01%):

+ Sốc phản vệ.

+ Viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, block nhĩ thất hoặc block nhánh.

+ Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, đỏ bừng mặt.

+ Loét dạ dày.

+ Ban đỏ trên da.

Các tác dụng phụ khác (không xác định được tỉ lệ ADR):

+ Giảm số lượng cả hồng cầu, bạch cầu lẫn tiểu cầu (Pancytopenia).

+ Phản ứng cục bộ trên da.

Tương tác thuốc

Lưu ý khi sử dụng

Idarubicin chỉ được sử dụng và giám sát bởi các bác sỹ có nhiều kinh nghiệm trong sử dụng các thuốc độc tế bào.

Người bệnh nên được giải quyết các vấn đề về tình trạng nhiễm độc cấp do các thuốc độc tế bào sử dụng trước đó (như viêm miệng, giảm bạch cầu đa nhân trung tính, giảm tiểu cầu, nhiễm khuẩn,..) trước khi bắt đầu sử dụng idarubicin để đảm bảo bệnh nhân có thể được điều trị ngay.

Độc tính của thuốc trên tim mạch cũng là 1 mối nguy khi sử dụng anthracycline và có thể biểu hiện thành các tác dụng không mong muốn cấp tính hoặc chậm xuất hiện:

- Cấp tính: các tác dụng phụ trên tim bào gồm nhịp nhanh xoang hoặc những bất thường trên ECG (ví dụ như thay đổi sóng QT-T không đặc hiệu, các rối loạn nhịp nhanh tim như co bóp thất sớm hoặc nhịp nhanh thất, nhịp tim chậm hoạc block nhĩ thất hoặc bó nhánh cũng được ghi nhận). Các tác dụng không mong muốn này thường không phải là 1 dấu hiệu báo trước về các độc tính mãn tính trên tim, hiếm khi có các vai trò trên lâm sàng và thường không cần phải ngưng sử dụng Idarubicin.

- Chậm xuất hiện: các tác dụng phụ trên tim xuất hiện chậm trong khi điều trị hoặc có thể trong vòng 2 tới 3 tháng sau khi đã điều trị xong, các biến cố xuất hiện từ vài tháng đến vài năm sau khi kết thúc điều trị cũng đã được ghi nhận và báo cáo. Các triệu chứng trên tim mạch như giảm phân suất tống máu ở thất trái và/ hoặc các triệu chứng của suy tim sung huyết như phù phổi, khó thở, bóng tim to, thiểu niệu, cố trướng, tràn dịch màng phổi,.. Hoặc các tác dụng cấp trên tim như viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim cũng đã được ghi nhận. Bệnh cơ tim nặng nhất gây ra bởi anthracycline là suy tim sung huyết có thể đe dọa đến tính mạng.

Liều tích lũy giới hạn của idarubicine hydrochlorid đường tiêm tĩnh mạch hoặc đường uống vẫn chưa được xác định. Nhưng idarubicine tiêm tĩnh mạch liều tích lũy 150 – 290 mg/m2 diện tích da đã được báo cáo trên 5% số người bệnh bị bệnh cơ tim. Các báo cáo khác đã cho thấy idarubicine đường uống liều tích lũy 400 mg/m2 diện tích da có tác dụng gây độc trên tim thấp.

Bệnh nhân nên được xem xét và đánh giá chức năng tim trước khi điều trị với idarubicin và phải được theo dõi sát sao trong toàn bộ quãng thời gian điều trị nhằm  làm giảm nguy gây cơ suy tim nặng. Cần theo dõi LVEF liên tục trong toàn bộ thời gian  điều trị, ngừng sử dụng idarubicin ngay khi có các dấu hiệu ban đầu của suy giảm chức năng tim có thể giúp giảm nguy cơ trên tim. Một số phương pháp để đánh giá chức năng tim (phân suất tống máu thất trái) như chụp quét, siêu âm tim nhiều lần (MUGA). Hoặc một số phương pháp đánh giá cơ bản như ECG kèm theo xạ hình tim hoặc cơ tim, siêu âm tim được khuyến cáo, đặc biệt ở những người bệnh có các yếu tố nguy cơ trên tim cao. Các kỹ thuật sử dụng trong đánh giá phải phù hợp trong toàn bộ quá trình theo dõi bệnh nhân.

Một số yếu tố nguy cơ khác có thể dẫn đến tăng khả năng tác dụng không mong muốn trên tim như có bệnh tim mạch đang hoạt động hoặc không hoạt động, xạ trị trước hoặc đồng thời vào vùng trung thất / màng ngoài tim, trước đó có sử dụng các thuốc anthracyclin hoặc anthracenedion khác và dùng cùng với các thuốc gây ức chế sự co bóp cơ tim hoặc các thuốc gây độc tim (như trastuzumab). Các thuốc anthracyclin không sử dụng phối hợp với các thuốc gây độc trên tim khác trừ khi chức năng tim của người bệnh đã được giám sát cẩn thận. Người bệnh sử dụng anthracyclin sau khi ngưng sử dụng các thuốc gây độc trên tim khác, đặc biệt là những thuốc có thời gian bán thải dài (như trastuzumab) cũng có thể làm tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn trên tim. Nồng độ trastuzumab được báo cáo có thể lưu trong vòng 7 tháng. Vì vậy, bác sỹ nên tránh cho bệnh nhân sử dụng anthracyclin trong vòng tối đa 7 tháng sau khi đã ngưng sử dụng trastuzumab khi có thể. Nếu không thể, người bệnh phải được giám sát chặt chẽ về chức năng của tim. Việc theo dõi chức năng của tim phải đặc biệt nghiêm ngặt đối với người bệnh sử dụng liều tích lũy cao và đối với những người bệnh có yếu tố nguy cơ. Tuy vậy, độc tính trên tim của idarubicin vẫn có thể xuất hiện ở liều tích lũy thấp hơn dù có hay không có các yếu tố nguy cơ về tim.
Đối với bệnh nhi và bệnh nhi sơ sinh, nhận thấy nhóm bệnh nhân này có thể nhạy cảm hơn với độc tính trên tim khi sử dụng Idarubicin, vì vậy việc đánh giá chức năng tim định kỳ trong thời gian dài là rất quan trọng.
Độc tính trên hệ huyết học: Idarubicin ức chế tủy xương mạnh do đó suy tủy nghiêm trọng sẽ xuất hiện trên tất cả những người bệnh sử dụng Idarubicin ở liều điều trị. Các chỉ số về huyết học của bệnh nhân phải được theo dõi và đánh giá trước và trong mỗi chu kì điều trị với idarubicin. Giảm bạch cầu có phục hồi phụ thuộc vào liều và/ hoặc giảm bạch cầu đa nhân trung tính là những tác dụng không muốn chủ yếu của Idarubicin trên huyết học và là độc tính cấp có thể phải giới hạn liều sử dụng của thuốc.
Thiếu máu. giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu cũng có thể xuất hiện. Số bạch cầu đa nhân trung tính và tiểu cầu giảm thông thường từ 10 - 14 ngày sau khi sử dụng thuốc. Nhưng số lượng tế bào máu này thường trở về giá trị bình thường ở tuần thứ 3.
Khi bệnh nhân bị suy tủy nặng, các trường hợp tử vong do nhiễm khuẩn và/ hoặc xuất huyết đã được ghi nhận và báo cáo. Các kết quả bất lợi trên lâm sàng của suy tủy nặng như sốt, nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, chảy máu, thiếu oxy mô hoặc thậm chí tử vong. Nếu sốt có kèm giảm bạch cầu đa nhân trung tính thì phải được điều trị bằng kháng sinh đường IV.
Bệnh bạch cầu thứ phát: bệnh bạch cầu thứ phát có hoặc không có giai đoạn tiền nhiễm khuẩn đã được ghi nhận và báo cáo ở những người bệnh sử dụng anthracyclines. Bệnh bạch cầu thứ phát có thể xuất hiện nhiều hơn khi Idarubicin được sử dụng phối hợp với các thuốc chống ung thư tác động lên ADN (người bệnh trước đó đã được sử dụng thuốc độc tế bào hoặc được tăng liều anthracyclin).
Trên đường tiêu hóa: sử dụng Idarubicin có thể bị nôn. Tác dụng gây viêm niêm mạc (viêm miệng thường gặp hơn so với viêm thực quản) thường xảy ra sớm sau khi sử dụng thuốc, nặng hơn có thể gây ra loét niêm mạc vài ngày sau đó. Đa số người bệnh phục hồi các phản ứng này ở tuần điều trị thứ 3. Đặc biệt đối với những người bệnh có các bệnh trên đường tiêu hóa hoặc các yếu tố làm tăng nguy cơ xuất huyết và/ hoặc thủng đường tiêu hóa thì phải cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ của việc sử dụng Idarubicin đường uống.
Lưu ý về chức năng gan và chức năng thận: chức năng gan hoặc chức năng thận bị suy giảm có thể gây ảnh hưởng đến phân bố của thuốc idarubicin, các xét nghiệm cận lâm sàng để theo dõi và đánh giá chức năng gan, chức năng thận nên được thực hiện trước và trong quá trình điều trị, các chỉ số thường được sử dụng để theo dõi như bilirubin huyết và creatinine huyết. Ở các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3, khi nhận thấy giá trị bilirubin huyết và/ hoặc creatinine huyết cao hơn 2.0 mg/dL thì chống chỉ định với Idarubicin. Đối với các thuốc anthracycline khác, khi giá trị nồng độ bilirubin huyết từ 1.2 – 2.0 mg/dL thì thường giảm liều thuốc phải sử dụng xuống 50%.
Biến cố tại vị trí tiêm:
- Xơ vữa động mạch có thể xảy ra do thuốc được tiêm vào mạch máu nhỏ hoặc có thể trước đó đã được tiêm thuốc trên cùng mạch. Việc tuân thủ đúng theo qui trình sử dụng thuốc được khuyến cáo có thể giúp làm giảm nguy cơ viêm hoặc viêm tắc tĩnh mạch ở vị trí tiêm.
- Sự thoát mạch: sự thoát mạch của thuốc idarubicin khi tiêm có thể dẫn đến đau cục bộ, tổn thương mô mức độ nghiêm trọng (như các mụn nước, viêm mô tế bào mức độ nặng) thậm chí có thể gây hoại tử. Nên ngừng quá trình tiêm thuốc ngay tức khắc khi xuất hiện các dấu hiệu, các triệu chứng của sự thoát mạch xảy ra khi tiêm thuốc idarubicin. Trong trường hợp thoát mạch xảy ra, có thể sử dụng dexrazoxan để ngăn ngừa và giảm thiểu các tổn thương trên mô.
Hội chứng ly giải khối u: Idarubicin có thể làm tăng acid uric huyết do quá trình dị hóa purin xảy ra đồng thời với sự ly giải các tế bào ung thư một cách nhanh chóng do thuốc gây ra (hội chứng ly giải khối u). Sau khi bệnh nhân được điều trị khởi đầu, nên theo dõi và đánh giá nồng độ a.uric huyết, kali, calci, phosphate và creatinine. Các biện pháp như hydrate hóa hoặc kiềm hóa nước tiểu và dự phòng bằng cách sử dụng allopurinol để giảm acid uric huyết giúp làm giảm các biến chứng tiềm tàng gây ra bởi hội chứng ly giải khối u.
Gây ức chế miễn dịch / Tăng nguy cơ nhiễm khuẩn: việc sử dụng vaccine sống hoặc vaccine sống giảm độc lực (như vaccine sốt vàng da) trên những người bệnh có hệ miễn dịch suy yếu do các tác nhân của liệu pháp hóa trị như idarubicin có thể gây ra nhiễm khuẩn mức độ nghiêm trọng hoặc thậm chỉ dẫn đến tử vong. Người bệnh đang sử dụng Idarubicin nên tránh tiêm chủng bằng các vaccine sống. Thay vào đó có thể chủng ngừa bằng các loại vaccine bất hoạt toàn thể hoặc vaccine đã bị giết nhưng hiệu quả tạo miễn dịch có thể giảm đi.
Trên hệ sinh sản: bệnh nhân là nam được điều trị sử dụng idarubicin hydrochlorid nên được tư vấn về việc sử dụng các biện pháp tránh thai phù hợp và hiệu quả trong quá trình điều trị, bên cạnh đó bệnh nhân cũng nên được tư vấn về việc bảo quản tinh trùng do khả năng gây vô sinh không hồi phục do sử dụng thuốc.
Các tác dụng khác: cũng giống như những thuốc gây độc tế bào khác, tình trạng gây viêm tắc tĩnh mạch và các hiện tượng thuyên tắc mạch, bao gồm cả thuyên tắc phổi đã được ghi nhận và báo cáo khi điều trị với Idarubicin.
Sản phẩm này có thể làm cho nước tiểu có màu đỏ trong vòng 1 - 2 ngày sau khi sử dụng, nên tư vấn và giải thích rõ ràng để người bệnh không lo lắng về tác dụng này nếu gặp phải khi sử dụng thuốc.

Thông tin sản phẩm

SĐK: VN3-348-21

NSX: Thymoorgan Pharmazie GmbH – ĐỨC

NĐK: Công ty TNHH Dược phẩm Việt Pháp

Sản phẩm thuộc nhóm: thuốc chống ung thư và tác động vào hệ thống miễn dịch.

Thuốc được bào chế ở dạng dung dịch tiêm, đóng gói trong hộp 01 lọ 10 mg/10 mL.

 

Có thể bạn quan tâm?
DIROPAM

DIROPAM

administrator
CEFPROZIL 250

CEFPROZIL 250

administrator
VIDROLINE

VIDROLINE

Vidroline có chứa Tetrahydrozoline hydroclorid 0,05%
administrator
EGANIN 200mg

EGANIN 200mg

administrator
BOSZAPIN 7.5

BOSZAPIN 7.5

administrator
CLOCLEO

CLOCLEO

administrator
CLOBETASOL

CLOBETASOL

administrator
BETAHISTINE DIHYDROCHLORIDE 8

BETAHISTINE DIHYDROCHLORIDE 8

administrator