UNG THƯ GAN NGUYÊN PHÁT

daydreaming distracted girl in class

UNG THƯ GAN NGUYÊN PHÁT

Ung thư gan nguyên phát là gì?

Ung thư gan nguyên phát là một khối u ác tính xuất hiện ở gan. Ung thư gan nguyên phát chủ yếu tác động đến người lớn là ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). HCC xảy ra trong tế bào gan, loại tế bào chính của gan, và còn được gọi là u gan.

Một loại ung thư gan ít phổ biến hơn có thể gặp phải từ đường mật nối gan với ruột và túi mật. Đây được gọi là ung thư biểu mô đường mật hoặc ung thư ống mật.

Một loại ung thư gan hiếm gặp, xuất hiện trong mạch máu được gọi là angiosarcoma. U nguyên bào gan là một dạng ung thư gan chỉ ảnh hưởng đến trẻ nhỏ và cũng rất hiếm.

Triệu chứng

Ung thư gan thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào trong giai đoạn đầu, nhưng chúng có thể xuất hiện khi khối u phát triển hoặc lan rộng. Các triệu chứng của HCC có thể bao gồm:

  • Suy nhược và mệt mỏi

  • Đau ở bụng hoặc ở vai phải

  • Chán ăn và cảm thấy buồn nôn, nôn

  • Sụt cân không giải thích

  • Vàng da và mắt 

  • Nước tiểu sẫm màu, đi cầu nhạt

  • Ngứa da

  • Bụng sưng lên do tích tụ chất lỏng (cổ trướng)

  • Sốt.

Những triệu chứng này cũng có thể do các tình trạng khác gây ra, nhưng hãy đến gặp bác sĩ nếu bạn nghi ngờ mình mắc bệnh.

Thấy có dấu hiệu này, cẩn thận gan, mật đang gửi lời cảnh báo bệnh nặng,  hãy nhanh chóng đi gặp bác sĩ

Ung thư gan gây nhiều triệu chứng khó chịu

Yếu tố nguy cơ

Loại chính của ung thư gan nguyên phát, HCC, thường liên quan đến nhiễm trùng kéo dài (mãn tính) do virus viêm gan B hoặc C gây ra. 

Sẹo gan (xơ gan) cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển HCC. Các mô sẹo ngăn chặn dòng chảy của máu qua gan và làm chậm quá trình xử lý các chất dinh dưỡng, hormone, thuốc và các chất độc tự nhiên. Nó cũng làm chậm quá trình sản xuất protein và các chất khác của gan.

Xơ gan có thể tiến triển chậm trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Nó có thể được gây ra bởi một số yếu tố, bao gồm:

  • Viêm gan B hoặc C

  • Bệnh gan nhiễm mỡ - thường liên quan đến chế độ ăn nhiều carbohydrate, thừa cân hoặc béo phì, uống quá nhiều rượu hoặc mắc bệnh tiểu đường tuýp 2

  • Uống rượu (có hoặc không mắc bệnh gan nhiễm mỡ)

  • Bệnh tiểu đường tuýp 2 (có hoặc không có bệnh gan nhiễm mỡ)

  • Các rối loạn di truyền chẳng hạn như thừa sắt (haemochromatosis) hoặc giảm nồng độ một loại protein cụ thể có thể khiến mô trong phổi và gan bị phá vỡ (thiếu alpha-1 antitrypsin).

Hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ mắc HCC. Những người có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ có nguy cơ phát triển bệnh cao hơn.

Viêm gan B là gì? Cần phải xét nghiệm những gì để phát hiện Viêm gan B?

Viêm gan B, C làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan

Chẩn đoán

Ung thư gan có thể được chẩn đoán bằng một số xét nghiệm. Chúng bao gồm xét nghiệm máu và hình ảnh như siêu âm, chụp CT và chụp MRI. Trong một số trường hợp, một mẫu mô (sinh thiết) cũng có thể được xem xét.

Xét nghiệm máu

Xét nghiệm máu không giúp chẩn đoán xác định ung thư gan, nhưng chúng có thể giúp bác sĩ tìm ra loại ung thư gan bạn mắc phải.

Mẫu máu của bạn có thể được gửi để làm các xét nghiệm khác nhau:

  • Kiểm tra chức năng gan (LFTs). Xét nghiệm máu có thể kiểm tra xem gan của bạn có đang hoạt động tốt hay không. Bạn có thể được thực hiện các xét nghiệm chức năng gan trước, trong và sau khi điều trị.

  • Xét nghiệm đông máu. Xét nghiệm này kiểm tra xem gan có đang tạo ra các protein giúp máu đông hay không. Mức độ thấp đông máu thấp làm tăng nguy cơ chảy máu.

  • Xét nghiệm viêm gan. Những phương pháp này kiểm tra viêm gan B và C, có thể dẫn đến ung thư gan nguyên phát.

  • Dấu hiệu khối u. Một số hóa chất được gọi là chất chỉ điểm khối u được tạo ra bởi các tế bào ung thư. Dấu hiệu chỉ điểm được đo phổ biến nhất cho HCC là alpha-fetoprotein (AFP). Đôi khi mức AFP vẫn bình thường ngay cả khi bị ung thư gan. Mặt khác, mức AFP tăng không phải lúc nào cũng có nghĩa là bị ung thư - các tình trạng như mang thai, viêm gan và vàng da cũng có thể làm tăng mức AFP mà không bị ung thư.

Xét nghiệm hình ảnh

  • Siêu âm. Đây là xét nghiệm phổ biến nhất trong hỗ trợ chẩn đoán ung thư gan. Nó cũng được sử dụng để theo dõi những người bị xơ gan. Phương pháp này sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh các cơ quan của bạn. Nó được sử dụng để cho biết liệu ung thư có xuất hiện hay không và kích thước của nó.

  • Chụp CT. Chụp CT (chụp cắt lớp vi tính) sử dụng chùm tia X để chụp nhiều hình ảnh bên trong cơ thể. Một máy tính sẽ ghi nhận chúng thành hình ảnh mặt cắt chi tiết.

  • Chụp MRI. Chụp MRI (chụp cộng hưởng từ) sử dụng sóng từ trường để tạo ra hình ảnh mặt cắt ngang chi tiết của các cơ quan trong cơ thể. Chúng cho thấy mức độ lan rộng của khối u và liệu nó có ảnh hưởng đến các mạch máu chính xung quanh gan hay không.

Một số lưu ý khi chụp cộng hưởng từ (MRI)

Chụp MRI

Sinh thiết

Sinh thiết là việc lấy một mẫu mô để kiểm tra dưới kính hiển vi. Nó thường không cần thiết để chẩn đoán ung thư gan nguyên phát, vì các xét nghiệm hình ảnh thường là đủ, đặc biệt là ở những người bị xơ gan. Tuy nhiên, sinh thiết có thể được đề xuất nếu vẫn còn chưa chắc chắn về chẩn đoán sau khi chụp cắt lớp.

Sinh thiết lõi

Bác sĩ sẽ gây tê cục bộ, sau đó đưa một cây kim qua da bụng để lấy một mẫu từ khối u. Siêu âm hoặc CT được sử dụng để hướng kim đến đúng điểm. Bạn có thể phải nằm viện trong vài giờ, hoặc qua đêm nếu có nguy cơ chảy máu cao.

Nội soi ổ bụng

Bạn sẽ cần phải gây mê toàn thân cho thủ thuật này. Bác sĩ sẽ tạo một số vết cắt nhỏ ở bụng và đưa vào một ống nhỏ có chứa đèn chiếu và máy ảnh (nội soi ổ bụng) để quan sát gan và lấy mẫu. Quy trình này được thực hiện nếu bác sĩ cho rằng ung thư có thể đã di căn sang các vùng khác của cơ thể.

Điều trị

Việc điều trị phụ thuộc vào kích thước, liệu nó có nằm ở gan và không ảnh hưởng tới mạch máu chính, và liệu bạn có bị xơ gan hay không. Bác sĩ cũng sẽ xem xét tuổi, sức khỏe tổng quát của bạn và các lựa chọn có sẵn tại bệnh viện.

Lựa chọn điều trị HCC theo giai đoạn

Hầu hết bệnh nhân mắc HCC sẽ được điều trị bằng nhiệt hay hóa trị qua động mạch (TACE). Phẫu thuật được sử dụng cho khoảng 5% số bệnh nhân.

  • Giai đoạn 0 (rất sớm) - thường là phẫu thuật

  • Giai đoạn A (sớm) - thường là nhiệt, TACE, phẫu thuật hoặc cấy ghép

  • Giai đoạn B (trung bình) - TACE

  • Giai đoạn C (nặng) - thuốc trị liệu đích hoặc điều trị giảm nhẹ

  • Giai đoạn D (giai đoạn cuối) - điều trị giảm nhẹ hoặc thử nghiệm lâm sàng; một số người bị suy gan và có khối u nhỏ có thể được đề nghị ghép gan.

Phẫu thuật gan

Mục đích của phẫu thuật là loại bỏ phần gan có chứa ung thư. Chỉ một số ít người bị ung thư gan có thể được phẫu thuật này vì nó thường chỉ phù hợp với một khối u chưa phát triển tới mạch máu. Gan cũng phải hoạt động tốt vì nó cần tự phục hồi sau khi phẫu thuật. Điều này có nghĩa là những người không hoặc không bị xơ gan sớm có thể được xem xét phẫu thuật (không phù hợp cho bệnh nhân xơ gan nặng hơn).

Sau khi phẫu thuật

Phần còn lại sau khi cắt bỏ sẽ bắt đầu phát triển, ngay cả khi loại bỏ 3/4 gan. Gan thường sẽ phát triển trở lại kích thước bình thường trong vòng vài tháng, mặc dù hình dạng của nó có thể thay đổi một chút.

Bạn sẽ được theo dõi các dấu hiệu chảy máu và nhiễm trùng. Một số người cũng sẽ bị vàng da. Điều này là tạm thời và sẽ cải thiện khi gan phát triển trở lại.

Có nên phẫu thuật điều trị ung thư gan?

Phẫu thuật ít được áp dụng trong điều trị ung thư gan

Ghép gan

Ghép gan bao gồm việc loại bỏ toàn bộ lá gan và thay thế nó bằng một lá gan khỏe mạnh từ người khác (một người hiến tặng). Phương pháp điều trị này có hiệu quả đối với HCC, nhưng nó thường chỉ được sử dụng ở những người có một khối u đơn lẻ hoặc một số khối u nhỏ. Nó thường không được khuyến cáo cho ung thư biểu mô đường mật (ung thư ống mật).

Để được xem xét ghép gan, bạn cần có sức khỏe phù hợp, không hút thuốc hay các chất kích thích và đã ngừng uống rượu ít nhất sáu tháng. 

Gan hiến tặng rất khan hiếm và chờ đợi một lá gan phù hợp có thể mất nhiều tháng. Trong thời gian này, ung thư có thể tiếp tục phát triển. Do đó, hầu hết mọi người đều phẫu thuật cắt bỏ khối u (xem bên dưới) hoặc TACE để kiểm soát ung thư trong khi họ chờ người hiến tặng.

Cắt bỏ khối u (tumour ablation)

Đối với các khối u nhỏ hơn 3 cm, bạn có thể sử dụng phương pháp này. Đây là lựa chọn tốt nhất nếu bạn không thể phẫu thuật hoặc đang chờ ghép gan. Phương pháp này có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào kích thước, vị trí và hình dạng của khối u.

Dùng nhiệt

Sử dụng nhiệt đến từ sóng vô tuyến hoặc vi sóng để tiêu diệt tế bào ung thư. Một kim nhỏ đưa sóng vô tuyến hay vi sóng vào khối u qua da, sử dụng chụp CT hoặc siêu âm để dẫn đường. 

Các tác dụng phụ có thể bao gồm đau, buồn nôn hoặc sốt, nhưng chúng có thể được kiểm soát bằng thuốc.

Tiêm cồn

Đây là phương pháp tiêm cồn nguyên chất vào khối u. Sau khi gây tê cục bộ, bác sĩ đưa kim vào khối u nhờ hình ảnh siêu âm hướng dẫn. Các tác dụng phụ có thể bao gồm đau hoặc sốt, nhưng có thể được kiểm soát bằng thuốc.

Phương pháp áp đông (cryotherapy)

Phương pháp áp đông tiêu diệt các tế bào ung thư bằng cách đóng băng chúng. Sau khi gây mê toàn thân, bác sĩ đưa một đầu dò qua vết cắt ở bụng tới khối u. Đầu dò rất lạnh, đóng băng và tiêu diệt các tế bào ung thư. Phương pháp này phục hồi nhanh hơn so với phẫu thuật, nhưng vẫn có nguy cơ chảy máu và tổn thương đường mật.

How is Cryotherapy Useful For Cancer Treatment? | Onco.com

Phương pháp áp đông dùng nhiệt độ thấp để tiêu diệt tế bào ung thư

Nút hóa chất động mạch (TACE)

Hóa trị là sử dụng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư, nhưng hiếm khi được sử dụng cho bệnh ung thư gan nguyên phát. Thay vào đó, TACE cung cấp liều cao hơn hóa trị tác dụng trực tiếp lên khối u. Nó thường được áp dụng cho những người không thể phẫu thuật hoặc đang chờ ghép gan. Chụp CT hoặc MRI sau khoảng sáu tuần sau để đánh giá hiệu quả điều trị.

Xạ trị: SIRT và SBRT

Xạ trị thường không được sử dụng để điều trị ung thư gan nguyên phát. Có 2 phương pháp là SIRT (xạ trị trong) và SBRT (xạ trị ngoài).

Trị liệu đích

Phương pháp này sử dụng các loại thuốc tấn công các phần cụ thể bên trong tế bào giúp ung thư phát triển.

Chăm sóc giảm nhẹ

Nếu ung thư gan nguyên phát tiến triển nặng ở giai đoạn chẩn đoán hoặc tái phát sau khi điều trị, bác sĩ sẽ thảo luận về phương pháp điều trị giảm nhẹ các triệu chứng do ung thư gây ra.

Điều trị giảm nhẹ nhằm mục đích kiểm soát các triệu chứng mà không cố gắng chữa khỏi bệnh. Nó có thể được áp dụng ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh ung thư tiến triển để cải thiện chất lượng cuộc sống. Nó không chỉ dành cho những người có nguy cơ tử vong cao, từ bỏ hy vọng điều trị. Nó giúp bạn sống càng lâu càng tốt theo cách bạn thoải mái nhất.

Điều trị giảm nhẹ có thể làm giảm đau và các triệu chứng khác. Điều trị có thể đồng thời cùng hóa trị, trị liệu đích, sử dụng các loại thuốc khác hoặc đặt stent.

 

 

 
Có thể bạn quan tâm?
CHẤN THƯƠNG LÁCH

CHẤN THƯƠNG LÁCH

administrator
VIÊM CHÓP XOAY

VIÊM CHÓP XOAY

administrator
VIÊM RUỘT THỪA

VIÊM RUỘT THỪA

administrator
RÔM SẢY

RÔM SẢY

administrator
HỘI CHỨNG VOLKMANN

HỘI CHỨNG VOLKMANN

Chứng co rút Volkmann là một biến dạng của bàn tay, ngón tay và cổ tay do chấn thương các cơ của cẳng tay. Tình trạng này còn được gọi là co thắt thiếu máu cục bộ Volkmann.
administrator
ÁP XE THẬN

ÁP XE THẬN

administrator
NGỪNG THỞ KHI NGỦ

NGỪNG THỞ KHI NGỦ

administrator
LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ VI

LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ VI

administrator