NGẤY HƯƠNG

Ngấy hương có vị chua hơi ngọt, tính bình, mùi thơm nhẹ có công dụng đa dạng như: hỗ trợ tiêu hóa (ăn không tiêu, đầy bụng, buồn nôn, vàng da,…), bổ ngũ tạng, ích tinh khí, tiêu phù thũng, giải độc, khử phong thấp, cường gân cốt, bổ gan thận.

daydreaming distracted girl in class

NGẤY HƯƠNG

Giới thiệu về dược liệu

Tên khoa học: Rubus cochinchinensis Tratt.

Tên đồng nghĩa: Rubus fruticosus Lour, Rubus playfairii Hemsl.

Họ: Rosaceae (Hoa hồng)

Tên gọi khác: Ngấy hương, Ngũ gia bì hương, Dây dum, Ngấy, Đũm hương, Mác tin tang (Tày), Ghín sí (Dao)

Đặc điểm thực vật

Ngấy hương là loại cây nhỏ, dạng bụi, mọc dựa vào cây khác, thân và cành non có lông, thân già nhẵn, gai cong. 

Lá kép chân vịt, mọc so le, gồm 5 lá chét. Các lá kép ở ngọn có số lá chét ít hơn, thường có 3 lá chét. Phiến lá chét hình mác, gốc thuôn, đầu nhọn, lá chét giữa lớn hơn, mép có khía răng, mặt dưới phủ lông mịn, màu trắng ngà hoặc vàng xỉn.

Cụm hoa mọc thành chùm hình chủy ở kẽ lá gần ngọn cành. Đài hoa gồm 5 răng nhỏ, tràng hoa gồm 5 cánh hoa mỏng, ngắn hơn đài, màu trắng. 

Quả phức hình cầu hoặc hình trứng mang các lá đài tồn tại, gồm nhiều quả hạch con bên trong, khi chín có màu đỏ hoặc đen nhạt, ăn được.

Toàn cây có tinh dầu rất thơm. 

Mùa hoa: tháng 9-10; mùa quả: tháng 11-2 năm sau.

Phân bố, sinh thái

Ngũ gia bì hương thích nghi với khí hậu mát mẻ quanh năm, nhưng cũng có thể trồng ở đồng bằng có khí hậu nóng ẩm về mùa hè.

Ngấy hương là loài đặc hữu của Đông Dương nhưng tập trung chủ yếu ở Việt Nam, rải rác có ở Lào, Campuchia. Đôi khi còn có ở biên giới Việt Trung.

Ở Việt Nam, cây mọc hoang ở các vùng rừng núi thấp (dưới 1000m), vùng trung du, có khi cả ở vùng đồng bằng. Cây ưa sáng nên thường gặp ở vùng ven rừng, hoặc trồng làm hàng rào ở nương rẫy do có gai.

Ngấy hương là loại cây thuốc quý, hiếm ở Việt Nam, đã được đưa vào Sách Đỏ quốc gia từ năm 1996. Hiện nay, cây đang được nghiên cứu bảo tồn và phát triển trồng.

Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Hầu hết các bộ phận của Ngấy hương đều được ứng dụng trong trị liệu như thân lá thu hái quanh năm hoặc quả

Thu hái thân, lá, quả quanh năm nhưng chủ yếu vẫn là vào mùa hè, sau đó đem phơi khô dùng dần.

Thành phần hóa học 

Nghiên cứu về thành phần hóa học của Ngấy hương còn khá hạn chế, sơ bộ có thành phần hóa học như: Quả có vitamin C, pectin, fructose, acid ellagic và acid hữu cơ khác. Cành lá có saponin, flavonoid, các hợp chất phenol đơn giản, tannin.

Tác dụng - Công dụng 

Theo y học cổ truyền: Ngấy hương có vị chua hơi ngọt, tính bình, mùi thơm nhẹ có công dụng đa dạng như: hỗ trợ tiêu hóa (ăn không tiêu, đầy bụng, buồn nôn, vàng da,…), bổ ngũ tạng, ích tinh khí, tiêu phù thũng, giải độc, khử phong thấp, cường gân cốt, bổ gan thận.

- Phần quả: Ăn ngon và bổ dưỡng.

- Phần thân lá: Phơi khô, thái nhỏ, sao thơm, sắc uống như uống chè. Ngoài ra, nếu đem phần thân lá không sao thơm đi sắc uống có thể giải nhiệt và phối hợp với các vị thuốc khác trong điều trị tiểu buốt, tiểu vàng…

Theo y học hiện đại: Dùng cao nước quả Ngấy hương cho chuột nhắt trắng uống trong nhiều ngày, kết hợp với chế độ ăn thiếu protein, thấy hàm lượng protein toàn phần tăng so với lô đối chứng không dùng thuốc. Kết quả trên có lẽ do Ngấy hương làm giảm quá trình dị hóa hoặc làm tăng quá trình đồng hóa protein. Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm về tác động này trên người của Ngấy hương vẫn còn khá hạn chế.

Cách dùng - Liều dùng 

Quả: Dùng 6 – 12 g mỗi ngày. 

Thân, lá: Dùng từ 15 – 30 g phơi khô chia làm 2-3 lần uống trước bữa cơm chính

Một số bài thuốc có dược liệu Ngấy hương:

- Bài thuốc chữa phù thũng: Thái nhỏ, sao vàng và sắc các dược liệu: Ngấy hương 20 g, rễ Cỏ tranh 10 g, Cỏ mần trầu 10 g. Chia thành 2 lần uống trong ngày. 

- Bài thuốc chữa cảm thấp, nôn mửa, ăn không tiêu: Phơi khô và sắc uống 40 -50 g lá ngấy hương. Có thể phối hợp với Gừng sống (3 g), lá Sả (20 g).

- Bài thuốc chữa vàng da: Phơi khô, tán nhỏ và sắc uống các dược liệu Ngấy hương 20 g, lá Vằng 10 g. Dùng 7 – 10 ngày.

- Bài thuốc chữa viêm gan, đau gan: Thái nhỏ, sao vàng, sắc uống các dược liệu: 30 g Ngấy hương, Khúc khắc, Đảng sâm, Rau má, mỗi thứ 20 g, Râu bắp, vỏ Núc nác mỗi thứ 15 g, lá Chanh 5 g. Nếu sốt thì thêm 20 g Kim ngân. Trẻ em dùng liều bằng 1/3 đến 2/3 liều người lớn.

- Chữa trẻ em suy dinh dưỡng, còi xương, chậm biết đi: Ngũ gia bì hương, mộc qua, ngưu tất (với lượng bằng nhau) sắc nước hoặc làm bột uống.

- Chữa thấp khớp: Ngũ gia bì hương 15g; thương truật, tần cửu, hy kiểm thảo, mỗi vị l0g; lão quán thảo 12g. Sắc nước hoặc ngâm rượu uống.

- Giảm tóc khô, gãy rụng: ép quả Ngấy hương tươi để lấy chất dịch, sau đó bôi vào chân tóc hàng ngày

Lưu ý

Một số đối tượng có cơ địa nhạy cảm như: như phụ nữ có thai, người có tiền sử dị ứng, trẻ nhỏ, người suy kiệt nặng, tình trạng cấp cứu… nên cân nhắc trước khi sử dụng dược liệu. Bởi các báo cáo dữ liệu về tác động của Ngấy hương trên các trường hợp này vẫn chưa đầy đủ. 

 

Có thể bạn quan tâm?
THÀI LÀI TRẮNG

THÀI LÀI TRẮNG

Thài lài trắng (Commelina communis) là một loại dược liệu được sử dụng từ lâu đời trong Y học cổ truyền. Thài lài trắng được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như Đạm trúc diệp, rau trai ăn, cỏ lài trắng, cỏ chân vịt. Dược liệu này được sử dụng chủ yếu để điều trị các bệnh về viêm, đau, sưng, đặc biệt là các bệnh về gan, thận và tiết niệu. Ngoài ra, Thài lài trắng còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, giảm đau, kháng khuẩn.
administrator
LÔ CĂN

LÔ CĂN

Lô căn là phần thân rễ của cây sậy, được bào chế để làm thuốc với các công dụng giúp thanh nhiệt, sinh tân, lợi thủy, tả hỏa và được dùng trong các bài thuốc trị miệng khô khát, viêm dạ dày cấp, ợ chua, ho, khạc đờm và một vài bệnh lý khác.
administrator
MÃ TIÊN THẢO

MÃ TIÊN THẢO

Mã thầy là cây thân thảo, nhỏ, sống lâu năm, cây cao từ 10cm và có thể cao đến 1m. Thân màu xanh lục, có 4 cạnh.
administrator
CHÙM NGÂY

CHÙM NGÂY

Cây chùm ngây thường phân bố chủ yếu ở các nước cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới. Là loại cây vừa có giá trị kinh tế vừa làm thực phẩm và làm thuốc.
administrator
SA SÂM

SA SÂM

Sa sâm là tên gọi chung của 2 loại dược liệu là Sa sâm bắc và Sa sâm nam. Sự phân loại này là do sự phân bố tự nhiên của cây.
administrator
BẠCH ĐẦU ÔNG

BẠCH ĐẦU ÔNG

Bạch đầu ông, hay còn được biết đến với những tên gọi: Hồ vương sứ giả, bạch đầu thảo, miêu đầu hoa, phấn thảo, phấn nhũ thảo. Cây bạch đầu ông là một loại thảo dược phổ biến có nhiều tác dụng hữu ích. Cây có tên gọi là bạch đầu ông là vì phía gần gốc của cây người ta thấy có chỗ trắng như bạch nhung, hình dáng lại như đầu ông lão, nên cái tên bạch đầu ông là bắt nguồn từ hình dáng của chúng. Còn về cụ thể công dụng, cách sử dụng vị thuốc đó như thế nào, bài viết dưới đây sẽ chia sẻ chi tiết đến quý bạn đọc.
administrator
BÔNG ỔI

BÔNG ỔI

Bông ổi là loại cây đẹp được dùng làm cây cảnh, nó còn được biết đến tên là Hoa ngũ sắc. Ngoài ra, loài hoa này còn được sử dụng làm vị thuốc thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, chữa đau bụng thổ tả, viêm da, hắc lào, cảm sốt. Tên gọi khác: Cây Ngũ sắc, hoa ngũ sắc, cây cứt lợn, thơm ổi, cây trâm ổi, hoa tứ quý, cây mã anh đơn, cây trâm hôi Tên khoa học: Lantana Camara L. Họ: Cỏ roi ngựa Verbenaceae.
administrator
MẬT NHÂN

MẬT NHÂN

Cây Mật nhân còn được biết đến với tên gọi cây bá bệnh. Lí do mà Mật nhân có cái tên thường gọi như vậy là do trong dân gian người ta đã sử dụng loại dược liệu này trong việc điều trị rất nhiều các bệnh lý khác nhau.
administrator