THIÊN TIÊN TỬ

Thiên tiên tử là một vị thuốc được phân nhóm độc bảng A. Theo y học cổ truyền, Thiên tiên tử có công dụng chữa đau răng, dùng trong trường hợp co giật hay hoảng sợ quá độ. Sau đây hãy cùng tìm hiểu về Thiên tiên tử, cũng như công dụng và thận trọng khi sử dụng.

daydreaming distracted girl in class

THIÊN TIÊN TỬ

Giới thiệu về dược liệu

Thiên tiên tử có tên khoa học là Hyoscyamus niger L. Thuộc họ Cà (Solanaceae). Tên gọi khác của Thiên tiên tử là Sơn yên tử, Đại sơn yên tử, Jusquiame hay Mont aux poules.  Tên tiếng Anh của Thiên tiên tử là Henbane, có nguồn gốc từ Anglo-Saxon Henn (gà) và Bana (kẻ giết người). Do khi gà ăn hạt của loài cây này sẽ bị tê liệt và chết.

Thiên tiên tử là cây thảo hai năm (thỉnh thoảng hàng năm), có chiều cao từ 15 – 100 cm. Thân của cây phân nhánh thưa với lá dày, dính và nhiều lông. Đối với lá, năm thứ nhất một hoa thị gốc, năm thứ hai thường chỉ mọc xen kẽ. Lá có cuống, thân lá có nhiều mấu. Phiến lá hình trứng, có răng, có thể dài 20 - 25cm và rộng 5 - 7cm. Ở phía dưới lá có cuống, phía trên thân không cuống và hơi ôm vào thân. Phiến lá chia nhiều thùy, nổi rõ ở gần chính lá.

Hoa nhỏ, mọc thành 2 hàng xen kẽ. Tràng hoa có màu vàng nâu, đôi khi có vân tím. Đài hoa hợp nhất, hình chuông với 5 thùy, to và phình ra ở gốc. Trong giai đoạn đậu quả, các thùy sẽ cứng lại thành gai. Quả nang hình tròn dài khoảng 1,5 cm. Được bảo vệ bởi đài hoa có hình bầu dục (cái bình).

Cây Thiên tiên tử đa số mọc hoang dại và số lượng ít, có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng.

Ngoài cây Hyoscyamus niger kể trên, người ta còn khai thác cả thiên tiên tử hoa trắng (tên khoa học Hyoscyamus albus) cũng có cánh tràng màu vàng nhạt, nhưng không có đường gân màu tía.

Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Thiên tiên tử được sử dụng điều trị bệnh trong cả đông y và tây y. Tuy nhiên, dược liệu này hoàn toàn phải nhập từ nước ngoài. Một số người nói rằng ở nước ta cũng có loại thảo dược này.

Đông y và Tây y đều thống nhất rằng cây này có độc. Theo Thần nông bản thảo thì thiên tiên tử được xếp vào hạ phẩm (nghĩa là có công dụng nhưng có độc). Không rõ Trung Quốc có vị này hay cũng chỉ nhập vào rồi bán sang nước ta.

Tại các nước châu Âu, thiên tiên tử được trồng và thu hoạch ở vùng ven biển Địa Trung Hải, các quốc gia Trung Á và Tây Á. Thường chọn cây sống 2 năm (chỉ có những cây này mới được công nhận làm thuốc chính thức). Những quốc gia này thường trồng vào tháng 2 - 3, thu lứa đầu vào tháng 7 và có thể thu lứa thứ 2 vào tháng 9, lứa thứ 3 vào tháng 10. Tuy nhiên, muốn thu hái lá đủ tiêu chuẩn (thu hái lúc cây ra hoa) thì cần trồng vào tháng 6, nếu không cây ra hoa ngay trong những năm đầu. Pháp lại quy định thu hái lá ở cây có quả non. Hạt dùng làm thuốc phải được thu hái trên những cây có quả chín hoặc gần chín. Mỗi quả chứa khoảng 500 hạt. Hạt rất nhỏ, đường kính 1mm, hình giống quả thận, màu nâu nhạt hay xám tro.

Thành phần hóa học

Thiên tiên tử là dược liệu rất độc. Tất cả các bộ phận của cây đều có độc và nếu ăn phải, dù một lượng nhỏ cũng có thể gây ra nhiều triệu chứng nguy hiểm từ chóng mặt đến mê sảng và các tác dụng khác. Theo chuyên gia Elizabeth, John Gerard, tình trạng ngộ độc giống như ngộ độc rượu ở chỗ cả hai đều gây choáng váng, sau đó là ngủ mê man.

Toàn cây chứa các alkaloid tropane như hyoscyamine, atropine, scopolamine. Hạt chứa một nhóm các alkaloid ít độc hơn. Thiên tiên tử là loài cây yêu thích của những người sản xuất chất độc vào thời Trung cổ.

Mặc dù cây Thiên tiên tử có độc, nhưng dược tính của thảo dược này đã được biết đến trong nhiều thế kỷ. Đặc biệt có giá trị trong phẫu thuật do tác dụng gây mê không thể phủ nhận. Các alkaloid có công dụng gây ngủ như hyoscyamine, scopolamine và atropin có trong loại thảo dược có mùi hôi này.

Lá thiên tiên tử chứa từ 0,045 cho tới khoảng 0,08 - 0,12% và đặc biệt tới 0,20% alkaloid toàn phần, trong đó chủ yếu là hyoscyamine, atropin, hyoscine và scopolamine .

Hạt thiên tiên tử chứa từ 0,10 - 0,14% alkaloid toàn phần trong đó có những alkaloid giống như trong lá. Ngoài ra trong hạt còn chứa 20 - 30% dầu béo màu vàng lục nhạt và khoảng 30% tinh bột.

Tác dụng - Công dụng

Một nghiên cứu về công dụng hạ huyết áp, giảm đau ngực và giãn mạch trong chiết xuất thô, các hợp chất của trong Thiên tiên tử là alkaloid, coumarin, flavonoid, sterol, tannin, terpen, gây ra giảm huyết áp động mạch (HA) trên chuột thí nghiệm được gây mê. Nghiên cứu này cho thấy rằng Thiên tiên tử có công dụng giảm huyết áp thông qua cơ chế đối kháng Ca2+.

Một nghiên cứu khác trên tác dụng chống lại bệnh Parkinson ở chuột thực nghiệm. Kết quả chỉ ra rằng có thể chiết xuất (dung môi cồn) của hạt có công dụng bảo vệ chống lại bệnh Parkinson nhờ khả năng ức chế monoamine oxidase, cũng như khả năng thu dọn gốc hydroxyl của nó.

GS. Đỗ Tất Lợi cho rằng Thiên tiên tử có công dụng tương tự cà độc dược. Các tác dụng bao gồm giãn đồng tử, giảm bài tiết dịch (nước bọt…), tê liệt đối với đầu thần kinh tim của các sợi thần kinh của thần kinh phế vị dẫn tơis làm tim đập nhanh. Dược liệu này còn gây liệt các trung tâm thần kinh, giảm kích thích của vỏ não dẫn đến các tác dụng làm dịu, gây ngủ

Cách dùng - Liều dùng

Trong Đông Y

Trong các tài liệu về y học cổ truyền, Thiên tiên tử có tính lạnh, vị đắng. Dược liệu này có tác dụng giảm đau, trấn kinh, sử dụng trong những trường hợp đau răng hay điên cuồng.

Liều dùng: mỗi ngày dùng từ 1,5 - 3g. Những trường hợp cơ thể bị suy nhược, ăn uống kém cấm sử dụng. Khi đau răng có thể nhét bột thiên tiên tử vào nơi răng sâu hay hun khói sau khi đốt.

Dược liệu được xếp vào nhóm hạ phẩm do có độc.

Theo Y học hiện đại

Trong Tây y, cả hạt và lá đều được xếp vào thuốc độc bảng A. Thường dùng ở dạng bột (phải chứa 0,2% alkaloid), liều 0,1 - 0,2g ở người lớn, trẻ em dùng 5 miligam.

Cồn thiên tiên tử (thuốc độc bảng C) mỗi gam tương ứng với 57 giọt. Mỗi ngày dùng từ 1 - 3 g dưới dạng giọt. Liều tối đa một lần là 1 g, trong 24 giờ là 4 g. Sử dụng giống với những chỉ định của cà độc dược.

Thiên tiên tử là một loài cây cực độc, được dùng trong dân gian như thuốc chữa đau răng, co giật hoảng sợ quá độ. Liều dùng là cực kì thấp, do đó cần hết sức thận trọng khi sử dụng 

Lưu ý

Thiên tiên tử là dược liệu quý với nhiều công dụng nhưng được phân nhóm độc bảng A. Do đó cần thận trọng, hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng để tránh các tác dụng phụ không đáng có.

 

Có thể bạn quan tâm?
CỎ MẬT

CỎ MẬT

Cỏ mật là dược liệu có tác dụng giải độc gan, nhuận gan, tăng tiết mật, được dùng để hỗ trợ điều trị ung thư gan, chữa cảm cúm, sốt xuất huyết, cao huyết áp, đái tháo đường, ngăn ngừa bệnh về tim mạch, chữa bệnh phong, hư lao sau sinh, rong huyết, tiểu tiện không thông, mệt mỏi, mất ngủ sau sinh…
administrator
Ô RÔ NƯỚC

Ô RÔ NƯỚC

Ô rô được chia thành 2 loại chủ yếu là Ô rô cạn và Ô rô nước. Mỗi loại Ô rô khác nhau sẽ có các đặc tính thực vật và tác dụng dược lý khác nhau. Đối với Ô rô nước, đây là một vị thuốc Y học cổ truyền rất quý khi nó có thể mang lại nhiều công dụng hữu ích cho sức khỏe.
administrator
RAU MÙI TÂY

RAU MÙI TÂY

Rau mùi tây có tính ôn, vị cay, có tác dụng kháng khuẩn, khử trùng, chống co thắt, điều trị rối loạn tiêu hóa, viêm dạ dày, chứng hôi miệng, rối loạn kinh nguyệt, đau bụng kinh, lợi tiểu và dùng trong ẩm thực, để trị sỏi thận, trĩ, rối loạn tiêu hóa, thiếu vitamin A, viêm da.
administrator
KÊ HUYẾT ĐẰNG

KÊ HUYẾT ĐẰNG

- Tên khoa học: Caulis Spatholobi suberecti - Họ: Fabaceae (Đậu) - Tên gọi khác: cây máu gà, đại hoàng đằng, đại huyết đằng, cây hồng đăng, cây dây máu.
administrator
LÔ CĂN

LÔ CĂN

Lô căn là phần thân rễ của cây sậy, được bào chế để làm thuốc với các công dụng giúp thanh nhiệt, sinh tân, lợi thủy, tả hỏa và được dùng trong các bài thuốc trị miệng khô khát, viêm dạ dày cấp, ợ chua, ho, khạc đờm và một vài bệnh lý khác.
administrator
THẠCH TÍN

THẠCH TÍN

Thạch tín, đôi khi còn được gọi với tên là Tín Thạch, Phê Thạch, Hồng Phê, Nhân Ngôn, Bạch Phê, với tên khoa học là Arsenicum. Đây là một hóa chất bán kim loại được tìm thấy khắp nơi trên thế giới ở tự nhiên. Tên gọi Thạch tín trước đây thường được mọi người sử dụng để nói đến As2O3 tự nhiên và thường có tạp chất. Tuy nhiên cho tới nay, Thạch tín bao hàm luôn cả As (Asen) – là một á kim có màu xám đen. Thạch tín tuy có thể được sử dụng để chữa bệnh, nhưng lại là một khoáng chất cực độc. Theo y học, Thạch tín có công dụng hỗ trợ điều trị các bệnh như hen suyễn, chàm, vảy nến, thiếu máu. Thạch tín hữu cơ là một trong những vị thuốc đầu tay giúp chữa giang mai. Sau đây hãy cùng tìm hiểu về Thạch tín và những công dụng của nó trong chữa bệnh.
administrator
DUỐI

DUỐI

Cây duối, hay còn được biết đến với những tên gọi: Duối nhám, ruối, may xói, hoàng anh mộc, duối dai. Duối là cây thường được trồng làm hàng rào ở các vùng nông thôn Việt Nam, tạo nên vẻ đẹp của làng quê. Bên cạnh đó, các bộ phận của cây như rễ, thân, lá cũng có được sử dụng trong trị bệnh. Bài viết sau sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về đặc điểm, công dụng và cách dùng của dược liệu này.
administrator
DẦU JOJOBA

DẦU JOJOBA

Cây jojoba có tên khoa học là Simmondsia chinensis. Cây có có nguồn gốc từ sa mạc ở Bắc và Trung Mỹ nhưng được trồng trên toàn thế giới như Chile, Ai Cập và Argentina. Jojoba được sử dụng rộng rãi bởi người Mỹ bản địa ở California. Có thể dùng trái cây jojoba trong nấu nướng hàng ngày hoặc dùng dầu để trị bệnh. Trong hạt jojoba chứa hầu hết hàm lượng dầu sáp của cây (khoảng 50 – 52%). Dầu jojoba dạng thô được tách chiết trực tiếp bằng phương pháp ép lạnh, hoặc chiết xuất bằng dung môi hòa tan. Dầu jojoba có màu vàng nhạt đến vàng, mùi thơm nhẹ đặc trưng của hạt.
administrator